Thông tin tài nguyên

NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ XỬ LÝ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP CỦA CHẤT KEO TỤ TỪ TRO BAY NHIỆT ĐIỆN THAN

hue-hujos-tt-7864.pdf · Phiên bản 1 · 13 trang

18
Bản gốc
Trang 9 · Đoạn 18Vị trí nguồn

jos.hueuni.edu.vn Tập 134, Số 2A, 2025 69 lý độ đục đạt 85,94% tương ứng với độ đục của nước thải sau xử lý là 8,29±1,75 NTU. Đối với SS, nồng độ sau xử lý là 9±2,65 mg/L thấp hơn 2,49 lần so với nước thải đầu vào (84,67±28,95 mg/L) đạt hiệu suất xử lý 90,49%. Kết quả phân tích thống kê cho thấy có sự khác biệt về trị trung bình của độ đục và SS giữa các mức nồng độ CKT với mức ý nghĩa 5% (p = 0.00). Hình 4. Sự biến động của độ đục theo nồng độ CKT Hình 5. Sự biến động của SS theo nồng độ CKT Vận hành mô hình keo tụ - lắng với CKT tro bay Độ đục là một trong những thông số quan trọng phản ánh khả năng xử lý chất ô nhiễm của CKT bằng phương pháp keo tụ - lắng. Độ đục được tạo nên do chất lơ lửng, chất hữu cơ, bùn sét có trong nước. Kết quả vận hành mô hình keo tụ-lăng với CKT tro bay cho thấy độ đục của nước thải đầu ra 10,02±1,34 NTU thấp hơn 3,26 lần so với đầu vào (33,33±2,76 NTU). Sự thay đổi nồng độ SS và COD của nước thải trước và sau khi keo tụ - lắng với CKT tro bay bằng mô hình keo tụ - lắng được thể hiện ở hình 6. Chất rắn lơ lửng là chỉ tiêu quan trọng cần được kiểm soát chặt trong quá trình keo tụ - lắng. Mục đích chính của quá trình keo tụ - lắng là loại bỏ chất rắn lơ lửng trong nước để chuyển sang công đoạn xử lý tiếp theo. Kết quả vận hành mô hình cho thấy có sự chênh lệch nồng độ SS giữa đầu vào và đầu ra mô hình. Cụ thể, nồng độ SS của nước đầu ra thấp hơn 2,11 lần so với đầu vào (33,33±9,45 mg/L). Kết quả phân tích thống kê cho thấy có sự khác biệt về SS giữa nước thải đầu vào và sau xử lý ở mức ý nghĩa

Trang 9 · Đoạn 19Vị trí nguồn

5% (p = 0,002). Qua kết quả thí nghiệm có thể thấy nồng độ SS và độ đục nước biến đổi cùng xu hướng khi được xử lý bằng CKT tro bay. Độ đục có thể là yếu tố dự báo cho SS, chẳng hạn, Packman [20] đã tìm thấy có mối quan hệ tuyến tính giữa độ đục và SS trong nước chảy tràn đô thị. Tchobanoglous [21] đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đo độ đục phải đồng hành với SS trong theo dõi quá trình xử lý sơ cấp và thứ cấp của nước thải. Nồng độ COD phản ánh hàm lượng chất hữu cơ hòa tan và không hòa tan trong nước thải. Quá trình keo tụ - lắng có thể loại bỏ một phần chất hữu cơ nên làm giảm nồng độ COD trước khi vào công đoạn xử lý kế tiếp trong hệ thống xử lý nước thải. Qua kết quả vận hành mô hình có thể thấy nồng độ COD đầu vào và đầu ra có sự chênh lệch. Điều này cho thấy khi sử dụng CKT tro bay để keo tụ nước thải có thể làm giảm COD. Nồng độ COD đầu ra đạt 384,89±62,54 mg/L, thấp hơn 2,37 lần so với nồng độ COD của nước thải đầu vào (912,00 ± 0,00 mg/L). Kết quả phân tích thống kê cho thấy có sự khác biệt về nồng độ COD giữa nước thải đầu vào và sau xử lý ở mức ý nghĩa 5% (p = 0,000). Một vấn đề cần lưu ý ở đây là nồng độ COD trong nước thải sau