Thông tin tài nguyên

NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ XỬ LÝ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP CỦA CHẤT KEO TỤ TỪ TRO BAY NHIỆT ĐIỆN THAN

hue-hujos-tt-7864.pdf · Phiên bản 1 · 13 trang

18
Bản gốc
Trang 8 · Đoạn 16Vị trí nguồn

Phạm Văn Toàn và CS. Tập 134, Số 2A, 2025 68 Hình 3. Hàm lượng Fe và Al hòa tan ở các mức nồng độ dung dịch chiết khác nhau 3.2 Thí nghiệm Jartest với CKT từ tro bay Ảnh hưởng của pH nước thải Thí nghiệm được thực hiện với mục đích xác định pH thích hợp của nước thải, là cơ sở để vận hành mô hình keo – tụ lắng. CKT được sử dụng với nồng độ 30 mg/L. Kết quả thí nghiệm cho thấy khi sử dụng CKT từ tro bay xử lý nước làm cho pH nước sau xử lý có pH thấp. Hiện tượng xuất hiện có thể do khi cho CKT vào thì quá trình keo tụ xảy ra. Các ion kim loại trong CKT tạo thành các hydroxide kết tủa làm cho hàm lượng các ion H+ còn lại trong nước tăng [10]. Cụ thể, CKT từ tro bay có chứa các ion Fe3+ và Al3+ kết hợp với dung dịch CKT có tính axit làm cho pH nước sau khi xử lý giảm. Khi nồng độ CKT được cố định và pH nước đầu vào thay đổi từ 6 đến 8,5 thì có sự khác biệt giữa độ đục và chất rắn lơ lửng của nước đầu và và đầu ra. Giá trị độ đục ghi nhận thấp nhất tại pH = 8 là 52,96±1,18, thấp hơn 0,96 lần so với độ đục của nước đầu vào. Bên cạnh đó, SS trong nước thải sau xử lý đạt 67,67±2,52 mg/L, thấp hơn 1,4 lần so với nồng độ SS đầu vào, ứng với hiệu suất xử lý 28,52%. Tuy nhiên, kết quả phân tích thống kê cho thấy không có sự khác biệt ở mức ý nghĩa 5% về độ đục và SS trong nước thải đầu ra giữa các mức pH. Như vậy, tuy có thể xác định được pH thích hợp cho tiền xử lý nước thải khi sử dụng CKT từ tro bay nhưng kết quả thống kê cho thấy không có sự khác biệt với mức ý nghĩa 5% giữa các mức pH. Với kết quả thí nghiệm này, ở giá trị pH = 8, độ đục và chất rắn lơ lửng trong nước có

Trang 8 · Đoạn 17Vị trí nguồn

hiệu suất xử lý cao nhất nên mức pH này được chọn cho các thí nghiệm sau. Xác định nồng độ CKT thích hợp Trong nghiên cứu này khoảng nồng độ CKT từ 10 đến 60 mg/L được đánh giá. Sau đó, mức nồng độ 10 mg/L đã được chọn cho thí nghiệm xác định mức nồng độ thích hợp. Kết quả thí nghiệm thể hiện ở Hình 4 và 5 cho thấy thấy độ đục và SS thay đổi cùng xu hướng khi thay đổi nồng độ CKT. Cụ thể, khi nồng độ CKT tăng thì độ đục và SS thay đổi theo chiều hướng tăng. Mức nồng độ CKT thấp nhất được chọn có thể chưa phải là mức phù hợp nhất cho quá trình keo tụ - lắng. Theo Lê Hoàng Việt và cộng sự [19] khi tăng nồng độ CKT thì độ đục của nước giảm nhưng khi tăng quá mức nồng độ thích hợp của CKT thì độ đục tăng trở lại. Ở mức nồng độ 7 mg/L hiệu suất xử