NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ XỬ LÝ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP CỦA CHẤT KEO TỤ TỪ TRO BAY NHIỆT ĐIỆN THAN
hue-hujos-tt-7864.pdf · Phiên bản 1 · 13 trang
jos.hueuni.edu.vn Tập 134, Số 2A, 2025 63 điện than chiếm 49,3% tổng nguồn điện cung cấp cho ngành điện và dẫn đến phát sinh lượng tro than lớn mỗi năm. Theo quy hoạch tổng thể điện lực, lượng tro có thể tăng lên tới 30 triệu tấn/năm, với 52 nhà máy nhiệt điện than dự kiến đi vào hoạt động đến năm 2030. Nếu lượng tro xỉ không được sử dụng thì sẽ có hơn 422 triệu tấn tro xỉ tồn đọng. Việc quản lý và tái chế tro than đã đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế và xã hội [10]. Việc tái chế tro bay ngày càng được quan tâm và có nhiều nghiên cứu, tập trung nhiều vào tái sử dụng tro bay cho ngành xây dựng. Theo Lưu Đình Thi và Lê Thị Thanh Tâm [11], tro bay được nghiên cứu sản xuất gạch không nung. Khi tro bay được sử dụng thay thế 30%, 50% và 70% xi măng thì cường độ chịu nén của các mẫu gạch tương ứng là 30%, 50% và 70%. Tro bay có thể là nguyên liệu sản xuất CKT phức hợp có chứa polymer sulfat của Al và Fe từ tro bay. CKT được tạo ra có hiệu quả trong việc loại bỏ chất rắn lơ lửng trong nước thải lên men ethanol ở pH trung tính [12] . Tuy việc nghiên cứu sử dụng tro bay đã được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, nhưng chưa có nghiên cứu kiểm nghiệm sử dụng CKT từ tro bay trên mô hình phòng thí nghiệm để đánh giá khả năng áp dụng vào thực tế. Chính vì vậy, nghiên cứu này được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả tiền xử lý nước thải của CKT từ tro bay và so sánh với CKT PAC trên thị trường, hướng tới tiềm năng ứng dụng CKT mới vào xử lý nước thải. 2 Phương pháp nghiên cứu 2.1 Vật liệu nghiên cứu
Tro bay được lấy trực tiếp ngẫu nhiên mang tính đại diện từ các silo chứa của nhà máy nhiệt điện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Nghiên cứu đánh giá khả năng áp dụng CKT điều chế từ tro bay để xử lý nước được thực hiện với nước thải công nghiệp tại hố thu gom nước thải của hệ thống xử lý nước thải tập trung của Khu công nghiệp Trà Nóc, Thành phố Cần Thơ. Đây là Khu công nghiệp đặc trưng với đa ngành, đa lĩnh vực, tập trung vào các nhóm ngành chính gồm chế biến thủy hải sản, may mặc, phân bón, hóa chất và thức ăn gia súc. Nước thải tại hố thu gom của hệ thống xử lý được lấy, chứa trong các can nhựa 30 lít và được vận chuyển về phòng thí nghiệm phục vụ thí nghiệm. Qua kết quả khảo sát từ các mẫu đơn được lấy và phân tích 3 ngày liên tục tại hố thu gom cho thấy nước thải của Khu công nghiệp đặc trưng của loại hình nước thải công nghiệp tập trung. Nhiệt độ trung bình của nước là 29,2 ± 0,9oC, nhiệt độ nước thấp và ít biến động. Nhiệt độ nước có ảnh hưởng đến tốc độ phản ứng hóa học, sự hòa tan oxy vào nước và hoạt động của vi sinh vật. Độ pH của nước 7,4 ± 0,4, cho thấy nước thải có tính chất gần trung tính, khá thuận lợi cho các quá trình xử lý sinh học. Tuy nhiên, nước thải có nồng độ COD trung bình là 801,8 ± 95,4 mg/L đặc trưng cho sự biến động khá lớn của các chất hữu cơ. Điều này cho thấy nước thải chứa một lượng lớn các chất hữu cơ, gây ra gánh nặng ô nhiễm cho môi trường nếu không được xử lý. Bên cạnh đó, chất rắn lơ lửng có nồng độ trung bình là 76,7 ± 37,7 mg/L. Nước thải có nồng độ
chất rắn lơ lửng không cao nhưng có biến động, với sự hiện diện của các vật liệu không tan gây tích tụ bùn. Nhìn chung, nước thải ở đầu vào hệ thống xử lý nước thải của Khu công nghiệp có chứa vật chất hữu cơ với nồng độ khá cao và biến động lớn, có nồng độ chất rắn lơ lửng vượt ngưỡng cho phép. Do vậy, nước thải này phù hợp để sử dụng cho nghiên cứu đánh giá hiệu quả tiền xử lý của chất keo tụ tro bay nhiệt điện than.