NGHIÊN CỨU ĐIỀU CHẾ VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ XỬ LÝ NƯỚC THẢI CÔNG NGHIỆP CỦA CHẤT KEO TỤ TỪ TRO BAY NHIỆT ĐIỆN THAN
hue-hujos-tt-7864.pdf · Phiên bản 1 · 13 trang
Phạm Văn Toàn và CS. Tập 134, Số 2A, 2025 70 quá trình keo tụ - lắng bằng CKT tro bay còn rất cao, trong khi pH của nước lại mang tính axit như đã trình bày ở trên. Do đó, pH nước cần phải được điều chỉnh nếu nước thải được tiếp tục xử lý bằng phương pháp sinh học sau keo tụ-lắng. Hình 6. Nồng độ SS và COD của nước ở đầu vào và ra quá trình keo tụ - lắng bằng CKT tro bay Vận hành mô hình keo tụ - lắng với PAC Với nồng độ PAC được sử dụng là 500 mg/L và nước đầu vào mô hình keo tụ-lắng có pH là 6,9 thì các chất ô nhiễm trong nước thải đã được loại bỏ ở mức độ nhất định. Cụ thể, độ đục của nước thải sau quá trình keo tụ - lắng là 36,29±0,78 NTU, thấp hơn 1,64 lần so với độ đục nước thải đầu vào (59,57±1,86 NTU). Nồng độ trung bình SS và COD của nước thải trước và sau khi keo tụ-lắng bằng PAC khác biệt rất có ý nghĩa ở mức 5%. Cụ thể, nồng độ SS của nước thải trước keo tụ - lắng là 102.00±16.52 mg/L và sau keo tụ - lắng đạt 49,56±5,57 mg/L (p = 0.028); nồng độ COD trước keo tụ - lắng là 906,67 ± 0,0 mg/L, sau keo tụ -lắng giảm còn 639,34 ± 80 mg/L (p = 0.000). Điều này chứng minh rằng khi mô hình được vận hành với nồng độ PAC phù hợp có thể loại bỏ được độ đục, SS và COD trong nước thải. Tuy nhiên, hiệu suất xử lý của mô hình khi vận hành với mức nồng độ PAC là 500 mg/L và không sử dụng chất trợ keo tụ thì không cao so với các hệ thống xử lý thực tế. Hình 7. Nồng độ SS và COD của nước ở đầu vào và ra quá trình keo tụ - lắng bằng PAC a a1 b b1 0 200 400 600 800 1000 SS (mg/L) COD (mg/L) Nồng độ (mg/L) Đầu vào Đầu ra a a1 b b1 0 200 400 600 800 1000 SS (mg/L) COD (mg/L)
Nồng độ (mg/L) Chất ô nhiễm Đầu vào Đầu ra