Nghiên cứu chế tạo vật liệu đồng xốp gia cường ống nanô cácbon định hướng ứng dụng trong chuyển hóa quang nhiệt
hue-hujos-tt-7377.pdf · Phiên bản 1 · 10 trang
jos.hueuni.edu.vn Tập 133, Số 2A, 2024 23 Hình 5. Các phép đo EDX cắt ngang của (a) Đồng xốp, (b) Cu-CNT sau 15 phút lắng đọng và (c) Cu-CNT sau 30 phút lắng đọng Các phép đo EDX được thực hiện để xác định độ bao phủ của CNT trên bề mặt Cu xốp. CNT được tổng hợp thông qua phương pháp CVD tương tác và biến tính trên bề mặt của các quả cầu đồng xốp. Vì vậy, kết quả EDX về hàm lượng Cu thực tế có thể phản ánh mức độ bao phủ của CNT trên bề mặt hạt cầu đồng. Nhìn chung, mẫu có thời gian phát triển CNT 30 phút có hàm lượng carbon cao hơn đáng kể so với mẫu có thời gian phát triển CNT 15 phút. Kết quả phân tích phổ EDX của mẫu 30 phút cho thấy cường độ đỉnh phổ đặc trưng của Cu rất nhỏ, điều này chứng tỏ sự bao phủ gần như hoàn toàn của CNT. Hàm lượng Cu trên bề mặt mẫu 30 phút là khoảng 9,59%, thấp hơn so với 18,83% của mẫu 15 phút và 98,22% của mẫu đồng xốp. Sự giảm mạnh thành phần Cu cho thấy độ bao phủ của vật liệu ống carbon nano trên bề mặt kim loại Cu là lớn, qua đó giúp cải thiện hiệu quả hấp thụ quang nhiệt của vật liệu. Kết quả Raman ở Hình 6 thể hiện các đỉnh đặc trưng về CNT. Cụ thể, dải D, đặc trưng cho các khuyết tật trong CNT, nằm ở số sóng khoảng 1333 cm⁻¹. Dải G, đặc trưng cho các dao động trong carbon sp2, nằm ở số sóng khoảng 1588 cm⁻¹ [19-20]. Dải 2D nằm ở số sóng khoảng 2700 cm⁻¹ đặc trưng cho các nguyên tử carbon định hướng lục giác của graphene.