MỘT CÁCH TIẾP CẬN KHAI PHÁ LUẬT KẾT HỢP MỜ SỬ DỤNG ĐẠI SỐ GIA TỬ
hue-hujos-tt-7816.pdf · Phiên bản 1 · 10 trang
Nguyễn Công Hào Tập 134, Số 2A, 2025 78 ký hiệu là c- và ta có c- < c+. Trong ví dụ nêu trên, nóng là phần tử sinh dương, còn lạnh là phần tử sinh âm. Như vậy, một cách tổng quát, cho X = ( X, G, H, ) là một đại số gia tử với G = {0, c-, W, c+, 1 }, H = H- H+ với giả thiết H+ = {h1,h2,.., hp}, H- = {h-q, ..., h-1}, h1 < h2 < ... < hp và h-q > h-q+1…> h-1 là dãy các gia tử. Trong đại số gia tử tuyến tính, chúng ta bổ sung thêm vào hai phép tính và với ngữ nghĩa là cận trên đúng và cận dưới đúng của tập H(x), tức là x = supremum H(x) and x = infimum H(x). Khi đó, đại số gia tử tuyến tính được gọi là đại số gia tử tuyến tính đầy đủ và được ký hiệu X = (X, G, H, , , ≤) [10]. Các hàm định lượng ngữ nghĩa ( ), hàm độ đo tính mờ (fm), hàm dấu (Sgn) và các tính chất của đại số gia tử có thể tham khảo trong công trình đã công bố [9-10]. 2.2 Lân cận mức k Khi định nghĩa lân cận mức k chúng ta mong muốn các giá trị đại diện như vậy phải là điểm trong của lân cận mức k. Giả thiết mỗi tập H- và H+ chứa ít nhất 2 gia tử, ta định nghĩa độ tương tự mức k như sau: Xét Xk là tập tất cả các phần tử độ dài k, dựa trên các khoảng mờ mức k và các khoảng mờ mức k + 1 chúng ta mô tả việc xây dựng một phân hoạch của miền [0, 1]: Với k = 1, các khoảng mờ mức 1 gồm I(c-) và I(c+). Các khoảng mờ mức 2 trên khoảng I(c-) là I(hpc-) = I(hp-1c-) = … = I(h2c-) = I(h1c-) = A(c-) = I(h-1c-) = I(h-2c-) = …= I(h-q+1c-) = I(h-qc-). Khi đó, ta xây dựng phân hoạch về độ tương tự mức 1 gồm các lớp tương đương sau: S(0) = I(hpc-), S(c-) = I(c-
)\[I(h-qc-)I(hpc-)]; S(W) = I(h-qc-) I(h-qc+); tương tự ta có S(c+) = I(c+)\[I(h-qc+) I(hpc+)] và S(1) =I(hpc+). Tương tự, với k =2, ta có thể xây dựng phân hoạch các lớp tương tự mức 2. Bằng cách tương tự như vậy, ta có thể xây dựng các phân hoạch các lớp tương tự mức k bất kỳ. Tuy nhiên, trong thực tế ứng dụng, chúng ta có thể giới hạn các gia tử tác động liên tiếp lên các phần tử nguyên thủy c- và c+ là một số nguyên k nào đó. Các giá trị rõ và các giá trị mờ gọi là có độ tương tự mức k nếu các giá trị đại diện của chúng cùng nằm trong một lớp tương tự mức k. Giả sử phân hoạch các lớp tương tự mức k là các khoảng S(x1), S(x2), …, S(xm). Khi đó, mỗi giá trị ngôn ngữ a chỉ và chỉ thuộc về một lớp tương tự, chẳng hạn đó là S(xi) và nó gọi là lân cận mức k của a và ký hiệu là k(a). Dựa trên khái niệm độ tương tự, quan hệ bằng nhau được định nghĩa như sau: Định nghĩa 2.1. Cho R= {A1, A2, …, An} là lược đồ quan hệ gồm n thuộc tính, r(R) là quan hệ xác định trên R, giả sử t và s là hai bộ dữ liệu thuộc quan hệ r(R). Ta ký hiệu t[Ai] =k s[Ai] và được gọi là bằng nhau mức k, nếu một trong các điều kiện sau xảy ra: a) Nếu t[Ai] và s[Ai] là giá trị rõ, thì t[Ai] = s[Ai]. b) Nếu t[Ai] là giá trị rõ, s[Ai] là giá trị mờ, thì t[Ai] k(s[Ai]).