MỘT CẢI TIẾN CỦA PHOBERT NHẰM TĂNG KHẢ NĂNG HIỂU TIẾNG VIỆT CỦA CHATBOT THÔNG TIN KHÁCH SẠN
hue-hujos-tt-6978.pdf · Phiên bản 1 · 16 trang
Ngô Văn Sơn và CS. Tập 131, Số 2A, 2022 8 2 Các nghiên cứu liên quan Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, những đột phá trong lĩnh vực học máy đã thúc đẩy chatbot phát triển. Bài báo này tập trung vào việc đánh giá các mô hình chatbot với khả năng hiểu ngôn ngữ tự nhiên từ năm 2018 đến nay. Trieu Hai Nguyen và cs. [19] đã đào tạo lại PhoBERT để trích xuất các đặc điểm của dữ liệu văn bản. Nghiên cứu sử dụng thuật toán phân cụm K-Means và DBSCAN cho các nhiệm vụ phân nhóm dựa trên các nhúng đầu ra từ PhoBERT. Kết quả cho thấy mô hình PhoBert hoạt động hiệu quả hơn. Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu giải quyết bài toán phân cụm chưa làm rõ cụ thể các bài toán phân loại ý định, trích xuất thực thể dành cho chatbot. Trong nghiên cứu của Bozic, Tazl và Wotawa [4], nền tảng Dialogflow được sử dụng để xây dựng kế hoạch tương tác của chatbot, trong đó mỗi hành động có thể được giả định là một câu hỏi được đưa ra cho chatbot. Câu trả lời của chatbot phải làm cho điều kiện hậu hành động trở thành thực tế để thực hiện kế hoạch. Trong trường hợp có sự sai lệch giữa hành vi chatbot thực tế và hành vi dự kiến, cần phải lập kế hoạch lại. Với cách tiếp cận này, nghiên cứu cũng đã thử nghiệm ứng dụng vào lĩnh vực du lịch. Tuy nhiên, chatbot này còn nhiều hạn chế cần chỉnh sửa ở phần kế hoạch tương tác. Nguyễn Thanh Thủy [8] đã phân tích việc xác định ý định của người dùng đóng vai trò quan trọng như thế nào trong thiết kế hệ thống chatbot bởi vì nó sẽ quyết định đến câu trả lời hay hành vi kế tiếp của chatbot. Nghiên cứu này đã đề xuất giải pháp ứng dụng thuật toán học
có giám sát Multi-Class SVM (Support Vector Machine) để xây dựng hệ thống chatbot hỏi – đáp tiếng Việt, sao cho nó có thể giúp chatbot hiểu và giao tiếp với con người thông qua đàm thoại văn bản. Nghiên cứu đã sử dụng kỹ thuật túi từ (BoW – Bag of Words) kết hợp với phương pháp TF-IDF (Term Frequency – Inverse Document Frequency) để xây dựng véc-tơ đặc trưng ngữ nghĩa của các câu văn bản tiếng Việt, sử dụng thuật toán Multi-Class SVM để huấn luyện và phân lớp, sau đó so sánh độ chính xác với các thuật toán khác. Hệ thống chatbot này đã được mô phỏng để trả lời tự động một số câu hỏi thường gặp của khách hàng khi sử dụng dịch vụ của Vietnam Airlines. Các chỉ số Accuracy, Macro-average Precision, Macro-average Recall và Macro-average F1-Score đã được sử dụng để so sánh và đánh giá các mô hình. Kết quả mô phỏng cho thấy giải thuật SVM có độ Accuracy tốt nhất (0.87429) và F1-Score nhỉnh hơn so với giải thuật NBs (0.05– 0.001) và trội hơn nhiều so với giải thuật kNN (0.11–0.103) và DT (0.24–0.222). Le và cs. [9] đã xây dựng bộ lọc đánh giá phản hồi của chatbot dựa trên đặc điểm của ngôn ngữ tiếng Việt. Nếu phản hồi không phù hợp, hệ thống sẽ không trả lời người dùng. Trong trường hợp này, hệ thống có thể yêu cầu thêm thông tin để tìm cách phản hồi tốt hơn hoặc ít nhất là trả lại thông báo thay vì phản hồi không chính xác. Nghiên cứu này đã phát triển một chatbot trên nền web nhằm đánh giá cách tiếp cận của họ.