Thông tin tài nguyên

TỔNG HỢP NANO NHŨ TƯƠNG TINH DẦU SẢ-CHITOSAN KẾT HỢP SÓNG SIÊU ÂM VỚI NATRI TRIPOLYPHOSPHATE VÀ KHẢO SÁT KHẢ NĂNG KHÁNG NẤM

hue-hujos-tt-7671.pdf · Phiên bản 1 · 13 trang

18
Bản gốc
Trang 8 · Đoạn 15Vị trí nguồn

Võ Văn Quốc Bảo và CS. Tập 134, Số 2A, 2025 54 Mẫu ký hiệu nanoTDS-Chi4 có chỉ số pDi bằng 0,336 trong khi đó mẫu nanoTDS-Chi-TPP4 vẫn còn dưới 0,3 (0,245). Kết quả này càng khẳng định vai trò của TPP trong việc cải thiện độ ổn định và khả năng phân tán của các hạt trong hệ nhũ tương. TPP hoạt động như một tác nhân liên kết ion, tạo ra một mạng lưới liên kết chéo giữa các hạt chitosan, từ đó cải thiện độ đồng nhất và ổn định của hệ nhũ tương. Sự bổ sung TPP giúp làm giảm khả năng tách pha, qua đó tăng cường tính ổn định cho các ứng dụng trong thực phẩm và dược phẩm, như được nhấn mạnh trong các nghiên cứu của Balasubramani và cs., Yousefi và cs. và Espinosa-Andrews và cs. [11, 19, 24]. Tổng hợp các kết quả từ Hình 1 và Hình 2 cho thấy các mẫu được ký hiệu nanoTDS-Chi3, nanoTDS-Chi-TPP3 và nanoTDS-Chi-TPP4 đều đạt tiêu chuẩn hệ nhũ tương nano theo ISO 22412:2017 và sẽ được chọn để khảo sát tính ổn định cũng như thử khả năng kháng nấm C. musa QB6 trong các nghiên cứu tiếp theo. 3.3 Độ ổn định của nano nhũ tương TDS-Chi Kết quả từ biểu đồ cho thấy sự ảnh hưởng của thời gian bảo quản đến độ ổn định của các mẫu nanoTDS-Chi3, nanoTDS-Chi-TPP3 và nanoTDS-Chi-TPP4. Việc lựa chọn ba mẫu này để theo dõi tiếp theo dựa trên tiêu chí đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn hệ nhũ tương nano theo ISO 22412:2017, tạo cơ sở khoa học vững chắc cho các nghiên cứu mở rộng. Chỉ số pDi và sự thay đổi kích thước giọt lỏng được theo dõi qua các thời điểm 0, 30, 60 và 90 ngày đã có sự biến đổi nhất định. Biểu đồ thứ nhất (Hình 3A) cho thấy rõ sự thay đổi trong kích thước giọt lỏng của các mẫu

Trang 8 · Đoạn 16Vị trí nguồn

nhũ tương qua thời gian. Đáng chú ý, mẫu nanoTDS-Chi3 có xu hướng tăng kích thước giọt lỏng nhanh chóng, đạt giá trị 212,1 nm sau 90 ngày theo dõi. Trong khi đó, các mẫu nanoTDS-Chi- TPP3 và nanoTDS-Chi-TPP4, duy trì kích thước giọt lỏng ổn định hơn qua thời gian, cho thấy việc bổ sung TPP đã có tác động tích cực trong việc duy trì hệ nhũ hóa. Bên cạnh đó, biểu đồ thứ 2 (Hình 3B) cũng cho thấy chỉ số pDi tăng nhẹ từ 0 đến 90 ngày và các mẫu có bổ sung TPP thể hiện chỉ số pDi thấp hơn so với mẫu không có bổ sung. Cụ thể, mẫu nanoTDS-Chi-TPP3 và nanoTDS-Chi-TPP4 vẫn duy trì chỉ số pDi dưới 0,3, cho thấy sự đồng nhất cao trong phân bố kích thước giọt lỏng. Ngược lại, mẫu nanoTDS-Chi3 có giá trị pDi đạt 0,312 ở ngày thứ 90, phản ánh mức độ phân tán cao hơn và sự không ổn định trong hệ nhũ tương. Kết quả này càng khẳng định việc bổ sung TPP không chỉ giúp cải thiện tính đồng nhất của hệ nhũ tương mà còn duy trì độ ổn định trong thời gian dài. Vai trò của TPP như một chất liên kết ion, tạo liên kết chéo giữa các nhóm amine proton hóa (-NH3⁺) của chitosan với các nhóm phosphate (-P=O, -P-OH) của TPP. Mạng lưới liên kết chéo này giúp ổn định cấu trúc các hạt nano, hạn chế hiện tượng kết tụ và duy trì tính đồng nhất trong phân bố kích thước. Liên kết chéo ion này không chỉ giảm sự chuyển động tự do của các tiểu phân mà còn hạn chế nguy cơ tách pha trong quá trình bảo quản [25, 26]. Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển và bảo quản các sản phẩm nhũ tương trong ngành thực phẩm và dược phẩm, nơi mà tính ổn định và hiệu quả là yếu tố then chốt. Các nghiên cứu trước đây

Trang 8 · Đoạn 17Vị trí nguồn

cũng đồng quan điểm với kết quả này. Balasubramani và cs. đã công bố việc sử dụng TPP không chỉ tạo ra mạng lưới liên kết chéo giữa các hạt chitosan mà còn làm tăng cường tính ổn định của hệ nhũ tương qua thời gian [19]. Tương tự, nghiên cứu của Yousefi và cs. khẳng định rằng TPP