Thông tin tài nguyên

TỔNG HỢP NANO NHŨ TƯƠNG TINH DẦU SẢ-CHITOSAN KẾT HỢP SÓNG SIÊU ÂM VỚI NATRI TRIPOLYPHOSPHATE VÀ KHẢO SÁT KHẢ NĂNG KHÁNG NẤM

hue-hujos-tt-7671.pdf · Phiên bản 1 · 13 trang

18
Bản gốc
Trang 6 · Đoạn 12Vị trí nguồn

Võ Văn Quốc Bảo và CS. Tập 134, Số 2A, 2025 52 Phần trăm ức chế (%)= ĐKTN đối chứng – ĐKTN mẫu ĐKTN đối chứng ×100 % trong đó: ĐKTN đối chứng là đường kính tản nấm trong mẫu không có nano nhũ tương; ĐKTN mẫu là đường kính tản nấm trong mẫu chứa nano nhũ tương 2.7 Phân tích thống kê Các thí nghiệm được thiết kế theo mô hình hoàn toàn ngẫu nhiên. Phân tích phương sai (ANOVA) được thực hiện bằng phần mềm SPSS phiên bản 19.1 để xác định sự khác biệt có ý nghĩa giữa các nhóm mẫu. So sánh các giá trị trung bình được tiến hành qua kiểm định Duncan’s Multiple Range Test (DMRT) với mức ý nghĩa 𝑝 < 0,05. 3 Kết quả và thảo luận 3.1 Tổng hợp nano nhũ tương TDS-Chi ảnh hưởng đến kích thước giọt lỏng Kết quả cho thấy, kích thước giọt lỏng của các mẫu chịu ảnh hưởng vào việc bổ sung TPP cũng như tỷ lệ phối trộn giữa TDS và Chi. Đặc biệt, các mẫu có tỷ lệ TDS:Chi là 0,5:1 và 0,25:1 đạt kích thước giọt lỏng dưới 200 nm, nằm trong phạm vi kích thước của hệ nhũ tương nano và thể hiện sự đồng nhất tốt, đáp ứng tiêu chuẩn của ISO 22412:2017 [15]. Sự đồng đều trong phân bố kích thước hạt đã được khẳng định bởi Salvia-Trujillo và McClements khi nghiên cứu độ ổn định của hệ nhũ tương nano thông qua phương pháp đo cấu trúc vi mô, cho thấy các hạt có kích thước dưới 200 nm đạt độ đồng nhất cao [18]. Đồng quan điểm, Balasubramani và cs. cũng ghi nhận rằng việc kiểm soát kích thước giọt lỏng đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện độ ổn định và tính đồng nhất của hệ nhũ tương nano từ tinh dầu V. Negundo [19]. Hình 1. Biểu đồ thể hiện kích thước giọt lỏng của các mẫu nhũ tương TDS-Chi